Trung tâm đào tạo thiết kế vi mạch Semicon


  • ĐĂNG KÝ TÀI KHOẢN ĐỂ TRUY CẬP NHIỀU TÀI LIỆU HƠN!
  • Đăng ký
    *
    *
    *
    *
    *
    Fields marked with an asterisk (*) are required.
wafer.jpg

Cùng tìm hiểu về công nghệ màn hình

Email In PDF.

     Màn hình ngày càng phổ biến trong các thiết bị điện tử đặc biệt là laptop và dtdd, nó là thành phần khá quan trong, sao ta không cùng tìm hiểu chút về chúng.

 

 

 Công nghệ màn hình hiện tại và tương lai

LCD được dự đoán sẽ thống lĩnh cả thị trường TV và PC trong năm 2008. Plasma cũng mất dần ưu thế trước sản phẩm tinh thể lỏng, trong khi giấy điện tử vẫn chỉ được ứng dụng hạn chế. Các phương pháp sản xuất màn hình phổ biến nhất hiện nay là CRT, LCD, plasma, LED và e-paper.

CRT - công nghệ bóng đèn hình

 
 
CRT sử dụng màn huỳnh quang và ống phóng tia cathode tác động vào các điểm ảnh để tạo sự phản xạ ánh sáng. CRT thể hiện màu trung thực, sắc nét, tốc độ phản ứng cao, phù hợp với game thủ và các chuyên gia thiết kế, xử lý đồ hoạ. Tuy vậy, nó cồng kềnh, chiếm nhiều diện tích và tiêu tốn điện năng hơn các loại màn hình khác.
CRT được ưa chuộng tại những khu vực như Trung Quốc, châu Á - Thái Bình Dương, Trung Âu và châu Phi vì giá rẻ hơn những công nghệ khác.

 LCD - tinh thể lỏng

 
 
Màn hình tinh thể lỏng được đánh giá cao hơn CRT nhờ kiểu dáng thanh mảnh và khả năng tiết kiệm điện. LCD được cấu tạo từ các điểm ảnh chứa tinh thể lỏng có khả năng thay đổi tính phân cực và cường độ của ánh sáng truyền qua khi kết hợp với các kính lọc phân cực. Mỗi pixel được chia làm ba ô màu đỏ, xanh lục và xanh lam. Những ô đó có thể được điều chỉnh một cách độc lập để sản sinh hàng nghìn, thậm chí hàng triệu màu.
Ưu điểm của loại màn hình này là mỏng, nhẹ, phẳng, không chiếm diện tích trên bàn làm việc, tiết kiệm điện năng và được cho là ít ảnh hưởng đến sức khỏe như công nghệ bóng đèn hình.
Tuy nhiên, LCD có độ tương phản thấp hơn CRT, thời gian phản ứng chậm hơn plasma, hạn chế về góc nhìn và hay gặp lỗi chết điểm ảnh. Màn hình tinh thể lỏng đời mới đang được khắc phục những nhược điểm trên và giới phân tích hy vọng công nghệ này sẽ có mặt trong khoảng 50% màn hình được xuất xưởng năm 2008.
Một biến thể phổ biến của tinh thể lỏng là TFT, sử dụng công nghệ transistor màng mỏng (thin film transistor) để cải thiện chất lượng hình ảnh. TFT được dùng nhiều trong màn hình TV, máy chiếu và điện thoại di động.

PDP - plasma

 
Tấm nền plasma được sản xuất chủ yếu cho màn hình cỡ lớn (trên 37 inch). Giữa hai tấm kính là những tế bào nhỏ chứa hỗn hợp khí xeon và neon. Khi tiếp xúc với nguồn điện, lớp khí gas này sẽ chuyển thành thể plasma (khí ion hóa có số hạt mang điện âm - dương tương đương nhau) và sản sinh ánh sáng.
Trong một thời gian dài, màu sắc ưu việt, tốc độ phản ứng nhanh, góc nhìn rộng hơn khi so sánh với LCD đã khiến plasma trở thành màn hình lý tưởng cho truyền hình độ phân giải cao HDTV. Người sử dụng cũng ngầm coi LCD chỉ phù hợp với màn hình nhỏ và không thể cạnh tranh với plasma trên thị trường sản phẩm cỡ lớn (trên 40 inch hay 100 cm).
Những tiến bộ trong công nghệ tinh thể lỏng cộng với thế mạnh sẵn có về trọng lượng, giá cả, tiết kiệm điện và độ phân giải phong phú cho HDTV khiến LCD trở thành đối thủ đáng gờm của PDP. Cuối 2006, TV LCD đã thâm nhập được vào thị trường trên 40 inch mà plasma từng thống lĩnh.

LED - màn hình diode phát quang

 

Mỗi điểm LED (light emitting diode) là một diode nhỏ, phát sáng nhờ sự vận động của electron trong môi trường bán dẫn. Để chiếu sáng toàn bộ màn hình, các đèn nền LED phải được đặt tương ứng 1-1 với ma trận điểm ảnh màu. Việc sắp xếp như vậy giúp điều chỉnh độ sáng chính xác đến từng điểm ảnh, tạo sự tương phản tốt hơn và loại bỏ hiện tượng lệch màu tại các góc mà màn hình LCD chiếu sáng nền bằng đèn huỳnh quang thường gặp phải.
Đèn LED tốn ít điện hơn những thiết bị phát sáng khác, nhưng màn hình càng lớn càng cần trang bị nhiều LED nên chi phí sản xuất cũng tăng lên. Giá cả chính là một trong những nguyên nhân khiến công nghệ này vẫn chưa phổ biến bởi người dùng phải bỏ ra số tiền gấp 2-3 lần để sắm TV LED so với TV thông thường.

E-paper - màn hình giấy điện tử

 
 
Giấy điện tử được làm từ chất dẻo chứa các hạt tích điện nhỏ xíu, có khả năng chuyển động và thay đổi hình ảnh hiển thị trên giấy. E-paper không phát sáng mà hấp thụ và phản xạ ánh sáng tự nhiên nên người đọc cảm thấy dễ chịu hơn so với nhìn vào màn hình máy tính. "Giấy" này nhẹ, có thể uốn cong, tiết kiệm năng lượng và trong tương lai chi phí sản xuất cũng sẽ rẻ hơn các công nghệ khác.
Điểm yếu của giấy điện tử là tốc độ đổi màu chậm và độ tương phản thấp. Nhưng cũng như LCD, những vấn đề đó sẽ dần được khắc phục. Sony là hãng đầu tiên giới thiệu sản phẩm giấy điện tử ra thị trường vào tháng 4/2004. Hiện nay, một số báo Mỹ và Pháp đang thử nghiệm việc phát hành nội dung trên e-paper.

OLED - công nghệ diode phát sáng hữu cơ

 
OLED, còn được gọi là LEP (Light Emitting Polymer) hoặc OEL (Organic Electro-Luminescence), sử dụng hợp chất hữu cơ để sản sinh ánh sáng khi tương tác với dòng điện. Hợp chất này được in theo hàng ngang và dọc lên một lớp polymer, hình thành ma trận pixel với những màu sắc khác nhau.
OLED tự tỏa sáng nên không cần đèn nền như LCD, giúp tiết kiệm tới 40% điện năng, mỏng và có độ phân giải màu cao so với công nghệ tinh thể lỏng. OLED có thể được "in" trên bất cứ chất nền phù hợp nào bằng công nghệ in ấn màn hình, nhờ đó đòi hỏi chi phí thấp hơn và có thể được dùng để sản xuất màn hình uốn dẻo hoặc tích hợp trong quần áo. OLED còn có góc nhìn rộng và thời gian phản ứng nhanh (0,01 phần triệu giây so với 8-12 phần triệu giây của LCD).
Điểm yếu của OLED là chất hữu cơ sẽ bị thoái hóa trong quá trình sử dụng nên tuổi thọ sản phẩm không dài, chỉ khoảng 14.000 giờ trong khi thời gian tồn tại của LCD, LED và PDP có khả năng lên đến 60.000 giờ. Sony đã trình diễn màn hình OLED 11 inch đầu năm 2007 và ngành công nghiệp sẽ cần thêm thời gian để xây dựng những tấm nền lớn tương đương LCD.

SED - kỹ thuật phát xạ điện tử dẫn bề mặt
 
Nguyên lý hoạt động của công nghệ SED (Surface-conduction Electron-emitter Display) giống màn hình CRT. Nhưng thay vì dùng ống cathode cồng kềnh ở phía sau để phóng tia điện tử tới các pixel, SED sử dụng những bộ truyền electron nhỏ được gắn ngay sau mỗi điểm ảnh. Nhờ đó SED mỏng hơn LCD và plasma trong khi thừa hưởng góc nhìn rộng, độ tương phản, phân giải màu và thời gian phản ứng của CRT (0,2 phần triệu giây).
Hãng Canon khẳng định SED còn tiêu thụ ít điện năng hơn màn hình tinh thể lỏng. Tuy vậy, tương lai của công nghệ này khá mờ nhạt do Canon hiện là công ty duy nhất sản xuất màn hình SED.

LCoS - tinh thể lỏng silicon

LCoS (Liquid crystal on silicon) đang được ứng dụng trong màn hình máy chiếu. Trong khi LCD projector dùng chip truyền ánh sáng qua tinh thể lỏng thì với công nghệ LCoS, tinh thể lỏng được đưa trực tiếp lên bề mặt chip.
Kỹ thuật này mang đến hình ảnh sắc nét hơn LCD và plasma cũng như có tiềm năng lớn trong việc sản xuất TV độ phân giải cao với chất lượng đáng nể và chi phí sản xuất không đắt đỏ.
Tuy nhiên, công nghệ này không dễ triển khai nên nhiều hãng, trong đó có Intel, đã quay lưng lại với LCoS. Hiện nay có khoảng bốn công ty theo đuổi công nghệ này, trong đó có Sony và JVC. Một số hãng khác như Sony ứng dụng kỹ thuật này vào các dòng máy chiếu còn JVC cũng dự định cho ra mắt TV LCoS với giá 3.300-4.496 USD.

TV laser - màn hình chiếu sáng bằng laser
 
TV laser là giải pháp cải tiến cho LCD, DLP (máy chiếu) và LCoS. Ba công nghệ này đòi hỏi nguồn sáng riêng và sử dụng bóng đèn để phát ánh sáng trắng, sau đó mới tách thành chùm sáng đỏ, xanh lục và xanh lam. TV laser thay thế bóng đèn bằng tia laser, cho phép hệ thống hiện thị gần như tất cả các màu mà mắt thường nhìn thấy được. Nó cũng sử dụng điện năng chỉ bằng 2/3 TV máy chiếu trước (rear projection) trong khi giá cả, trọng lượng và độ mỏng giảm một nửa so với plasma và LCD.
Tuy nhiên, TV laser được cho là có hại cho mắt và cần được trang bị các bộ lọc khuếch tán ánh sáng để giảm nguy cơ. Dù được nhắc đến từ 1966, phương pháp này vẫn chưa đạt được chất lượng như mong đợi. Ngày 7/1, tại triển lãm điện tử gia dụng CES 2008 ở Las Vegas (Mỹ), Mitsubishi Digital Electronics America đã cho ra mắt TV laser đầu tiên của họ với màn hình 65 inch, hỗ trợ HD.

Những công nghệ màn hình đang được thử nghiệm

Ống nano carbon

Ứng dụng ống nano carbon vào màn hình tinh thể lỏng là một trong những giải pháp hứa hẹn sẽ giảm chi phí sản xuất, tăng độ phân giải và chất lượng hình ảnh cho thiết bị. Công nghệ này cũng giống mô hình CRT, nhưng sử dụng tập hợp ống nano thay thế cho các dạng nguồn sáng truyền thống như bóng đèn hoặc diode phát quang để phản chiếu hình ảnh lên màn hình.
Nguồn sáng trong màn hình hiện nay khá tốn kém, như đèn nền trong TV LCD 37 inch chiếm 38% chi phí sản xuất sản phẩm và tăng lên 50% trong màn hình 40 inch. Ống nano rẻ hơn, dẫn điện tốt hơn kim loại, có thể phát sáng và giảm mức điện năng tiêu thụ. Samsung từng xây dựng thử nghiệm màn hình ống nano 15 inch trong năm 2006.

Màn hình tinh thể nano

Một công nghệ màn hình khác cũng đang được nghiên cứu phát triển là Nanocrystal Display, sử dụng cơ robot để điều khiển các lăng kính nhỏ khi có ánh sáng trắng chiếu xuyên qua chúng. Sau đó, những tia sáng này sẽ được phân tách và sản sinh màu trên màn hình.
Người ta có thể thu được tần số ánh sáng cụ thể bằng cách xoay hình lăng trụ. Tinh thể nano rất linh hoạt, uốn cong theo ý muốn và chi phí sản xuất có thể sẽ thấp hơn màn hình tinh thể lỏng.

 

Tìm hiểu về công nghệ OLED và AMOLED

Tương lai dành cho màn hình OLED đang rộng mở. Ngày mà OLED thay thế LCD không còn xa, bất chấp việc màn hình tinh thể lỏng LCD đang phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên xu hướng của thời đại mới chắc chắn sẽ nghiêng về OLED, trở thành dòng sản phẩm thay thế cho thế hệ màn hình CRT xuất hiện trên những chiếc Tivi đầu tiên của thế kỉ trước, tinhte.vn xin mời bạn đọc tìm hiểu về công nghệ OLED trong bài viết sau đây.


Tìm hiểu về công nghệ LED, OLED, AMOLED
 
1.LED:


LED(viết tắt của Light Emitting Diode, có nghĩa là điốt phát quang) là các điốt có khả năng phát ra ánh sáng hay tia hồng ngoại, tử ngoại. Cũng giống như điốt, LED được cấu tạo từ một khối bán dẫn loại p ghép với một khối bán dẫn loại n.

 
LED hoạt động giống như các loại điốt bán dẫn loại p-n. Đó là sự chuyển động qua lại lẫn nhau của các lỗ trống (tích điện +) và các điện tử tự do (tích điện -) nhằm cân bằng điện tích giữa 2 khối bán dẫn: khối p và khối n. Quá trình này diễn ra liên tục và tạo ra 2 trạng thái xen kẽ ở mỗi lớp: tích điện + (thừa lỗ trống, thiếu điện tử), tích điện - (thiếu lỗ trống, thừa điện tử), tất nhiên sự cân bằng điện tích có xảy ra nhưng chỉ trong 1 th.gian cực ngắn.

Ở biên giới hai bên mặt tiếp giáp, một số điện tử bị lỗ trống thu hút và khi chúng tiến lại gần nhau, chúng có xu hướng kết hợp với nhau tạo thành các nguyên tử trung hòa. Quá trình này có thể giải phóng năng lượng dưới dạng ánh sáng nhìn thấy (đỏ, vàng, lục, lam,...) hoặc các bức xạ điện từ (hồng ngoại, tử ngoại) có bước sóng gần đó, tùy theo mức năng lượng giải phóng mà ánh sáng có màu sắc khác nhau.

Ứng dụng của LED hiện nay khá rộng rãi trong các thiết bị điện, điện tử như TV LED, đèn trang trí, đèn giao thông, dùng trong remote ở các đồ điện tử thông dụng (LED hồng ngoại)

Công nghệ LED được sử dụng trong TV.


Sử dụng công nghệ LED khiến TV đạt được độ hiển thị màu tốt với kích thước rất mỏng

Điểm mạnh của LED là gọn nhẹ, bền, tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên LED đã xuất hiện 1 số điểm yếu như dễ bị hỏng do điện thế ngược (do tích chất định hướng-điốt của nó), ưu điểm tiết kiệm năng lượng (ít phát nhiệt) dẫn đến điểm yếu của đèn giao thông sử dụng LED: ở những vùng có tuyết, do ít phát nhiệt nên các đèn giao thông ko đủ đốt nóng chảy tuyết bám trên đèn, làm tài xế ko thấy được đèn giao thông, gây bất tiện, có thể khiến tắc nghẽn giao thông.

2.OLED:

OLED (Organic Light-Emitting Diode - Điốt phát quang hữu cơ) là công nghệ tân tiến hơn LED với hiệu suất chiếu sáng cao hơn, tuổi thọ dài hơn.


Hình ảnh minh họa công nghệ OLED


Các tấm OLED đạt được độ mỏng ấn tượng (~1.7mm) và hầu như không tỏa nhiệt khi phát sáng nên OLED hiện là công nghệ đang thu hút nhiều nhà thiết kế thiết bị phát sáng, kiến trúc sư. Màn hình OLED tạo ra ánh sáng khuyếch tán đồng bộ và hoạt động được trên những tấm vật liệu siêu mỏng.
Ứng dụng: OLED hiện đang được sử dụng làm màn hình điện thoại di động, 1 số ít model TV gần đây của Samsung, Sharp, Panasonic... và gần đây là Zune HD của Microsoft.


Những tấm vật liệu mỏng và dẻo sử dụng công nghệ OLED

Gần đây nhất, ngày 31/12/2009, các kỹ sư Anh thuộc công ty LOMOX Ltd. đã nhận sự tài trợ từ tổ chức chống biến đổi khí hậu Carbon Trust để nghiên cứu nhằm tạo ra tấm dán tường OLED, tạo nên các bức tường phát quang nhằm thay thế bóng đèn-một trong những nguồn thải khí Cacbonic vô cùng phổ biến.

3.AMOLED

AMOLED (Active Matrix Organic Light-Emitting Diode - Điốt phát quang hữu cơ ma trận động) là công nghệ màn hình tiên tiến nhất hiện nay.

Có thể hiểu, công nghệ AMOLED sử dụng các pixel OLED gắn trên một tấm film bán dẫn mỏng (TFT) nhằm tạo nên một ma trận pixel, cho phép hiển thị tín hiệu dưới tác động của dòng electron với công dụng tạo nên một loạt các công tắc kiểm soát các pixel.

Về ưu điểm, có thể kể sơ lược các ưu điểm nổi bật của AMOLED so với các loại khác:
  • Hình ảnh có độ tương phản cao, gia tăng độ chi tiết & độ sâu của hình ảnh.
  • Thời gian đáp ứng nhanh, góc nhìn rộng.
  • Ít chịu ảnh hưởng từ môi trường ngoài, vẫn hiển thị hình ảnh tốt dưới ánh sáng trực tiếp.
  • Chịu tác dụng lực cơ học tốt hơn các loại công nghệ màn hình khác, tạo nên độ bền cao.
  • Tiết kiệm điện năng tiêu thụ từ 50% đến 70%.

Bảng so sánh AMOLED và TFT
 

Ứng dụng: Samsung là công ty đầu tiên nghiên cứu, phát triển và ứng dụng rộng rãi công nghệ AMOLED cho sản phẩm của mình. 

Các sản phẩm của Samsung sử dụng công nghệ AMOLED đã hiển thị hình ảnh rất tốt như Omnia, Omnia II, Omnia HD. Trong khi đó các nhà sản xuất điện thoại di động lớn khác cũng đang thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ AMOLED cho sản phẩm của mình như Nokia, Apple iPhone, v.v...
Kết luận: Các công nghệ tiên tiến như OLED, AMOLED rất hữu dụng trong lĩnh vực, với khả năng uốn cong nhờ tính chất dẻo của vật liệu, độ bền cao, tiết kiệm điện gấp 2-3 lần sản phẩm TFT, LCD, ko phát nhiệt, ko thải khí carbonic, các công nghệ này sẽ góp phần đáng kể vào việc giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng nhà kính, không gây ô nhiễm môi trường.

 

Super AMOLED là gì?

Super AMOLED là công nghệ hiển thị được nhắc đến khá nhiều trong thời gian gần đây. Tuy nhiên có thể các bạn chỉ quan tâm đến những trải nghiệm thực tế mà không biết hết các đặc tính quan trọng tạo nên sức mạnh hiển thị tuyệt đối của loại màn hình này. Vậy thì đâu là những điều cần biết về Super AMOLED?

Super AMOLED là từ viết tắt của cụm từ Super Active-Matrix Organic Light-Emitting Diode, đây là một công nghệ được phát triển từ AMOLED. Xin lưu ý để bạn đọc phân biệt, Super AMOLED và AMOLED cùng một công nghệ hiển thị, nó chỉ khác nhau về công nghệ cảm ứng. Cụ thể là trong khi màn hình cảm ứng AMOLED được tạo thành bởi một lớp kính cảm ứng bên ngoài lớp hiển thị thì Super AMOLED đã loại bỏ đi được một trong 2 thành phần đó, tức là nó tích hợp sẵn các phần tử cảm ứng ngay trên màn hình hiển thị. Chỉ một thay đổi nhỏ nhưng Super AMOLED đã trở thành công nghệ hiển thị trên di động được đánh giá tốt nhất hiện nay.

Từ những con số...

Thay đổi cấu trúc chưa phải là tất cả, Samsung đã cố gắng tối ưu hóa hiệu năng hoạt động của Super AMOLED. Vì thế cho dù AMOLED đã có rấ nhiều ưu điểm nhưng Super AMOLED còn mạnh hơn thế nữa. Dưới đây là những con số sẽ khiến bạn yên tâm hơn khi sử dụng một thiết bị có màn hình Super AMOLED (so sánh với AMOLED):

- Giảm 20% điện năng tiêu thụ

- Phản xạ ít hơn 80% lượng ánh sáng mặt trời

- Góc nhìn 180 độ

- Sáng hơn 20%

- Độ tương phản 100,000:1

Thật ấn tượng. Trong khi thời lượng sử dụng đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu đối với smartphone, Super AMOLED đã khắc phục gần như hoàn toàn. Còn về góc nhìn và độ tương phản, Super AMOLED thậm chí còn vượt qua nhiều mẫu HD TV cao cấp trên thị trường. Hẳn bạn còn nhớ các thử nghiệm của GSMarena với Samsung Wave và Galaxy S? Rất nhiều bạn đã mua được Wave cho mình, chắc chắn các bạn sẽ tin tưởng vào kết quả thử nghiệm mà chúng tôi cung cấp.

... đến các ứng dụng thực tế.

Do loại bỏ bớt đi một lớp kính cảm ứng, điều đầu tiên chúng ta nhận thấy đó là độ mỏng của màn hình Super AMOLED. Có thể thấy là các điện thoại cảm ứng dùng Super AMOLED gần đây của Samsung có độ mỏng đến khó tin, thậm chí Galaxy S đã trở thành điện thoại Android mỏng nhất thế giới khi sử dụng lại màn hình này. Có thể với ưu thế về độ mỏng, Samsung sẽ sớm ra mắt điện thoại cảm ứng mỏng nhất hiện nay, vượt qua cả iPhone 4 của Ap.ple.


Super AMOLED có thể nói là màn hình hiển thị tốt nhất hiện nay dưới ánh sáng trực tiếp của mặt trời. Điều này có thể hiểu như sau: Các màn hình thông thường do có một lớp kính bảo vệ, dù có là rất mỏng thì nó cũng là nguyên nhân gây ra hiện tượng chiết xuất. Ánh sáng chiếu vào, các tia màu sắc khác nhau sẽ tạo ra một góc chiết quang khác nhau gây khó khăn cho việc quan sát màn hình. Hơn nữa, ở một góc nhìn nào đó, ánh sáng sẽ bị phản xã hoàn toàn làm cho góc nhìn nhỏ hơn rất nhiều. Thực tế các thử nghiệm cho thấy rất rõ điều này. Super AMOLED do được tích hợp các phần tử cảm ứng lên màn hình hiển thị và đã không gặp phải bất cứ khó khăn nào trong hầu hết các điều kiện.

Các bạn cũng thấy, rất nhiều điện thoại khi sử dụng tỏa nhiều nhiệt, không phải từ pin mà là từ màn hình cảm ứng. Nguyên nhân này là do đâu?

Cũng như các thiết bị điện tử khác, các màn hình khi hoạt động cũng tỏa ra nhiệt độ. Với một lớp gương dầy bên ngoài, nhiệt độ sinh ra tại màn hình thường không được giải phóng, bị giữ lại và ít nhiều cũng làm giảm tuổi thọ của nó, và cả các linh kiện bên trong máy. Các bạn sử dụng điện thoại như Omnia HD hay iPhone sẽ cảm nhận rõ điều này, nhất là khi chơi game hay các chương trình yêu cầu cao về đồ họa. Như vậy với Super AMOLED, bạn hoàn toàn yên tâm khi không có hiện tưởng trên xảy ra, giúp tăng tuổi thọ màn hình điện thoại của bạn.

Các thông tin khác

Hiện trên thế giới mới chỉ có 3 mẫu điện thoại sử dụng màn hình Super AMOLED đó là: Galaxy S, Wave S8500 và Beam I8520. Cũng đã có các tin đồn về các sản phẩm khác cũng sẽ được trang bị loại màn hình này đó là Galaxy S Pro, Galaxy Tab... Như vậy, nếu những thông tin trên là chính xác thì ngoài các kích thước 3,3-inch, 3,7-inch và 4,0-inch, Samsung cũng sẽ mở rộng thêm các loại 7-inch, 8-inch và cả 10-inch để đáp ứng cho các nhu cầu sử dụng. Wave S8500 mới được bán tại Việt Nam cách đây vài ngày và đã nhận được những phản hồi tích cực từ phía người tiêu dùng. Nhưng chiếc điện thoại được Samsung kỳ vọng hơn chính là Galaxy S, tuy nhiên thì phải đến tháng sau thì nó mới xuất hiện tại Việt Nam, cho dù là trước đó Samsung đã ra mắt sản phẩm này tại nhiều quốc gia trên thế giới, và mới đây nhất là Hàn Quốc.

Samsung hiện là nhà sản xuất màn hình AMOLED lớn nhất thế giới. Hãng đang có kế hoạch đầu tư 2,11 tỷ USD cho một dây chuyền sản xuất màn hình AMOLED với khả năng đáp ứng 30 triệu đơn vị mỗi tháng. AMOLED hiện là công nghệ hình ảnh rất được ưa chuộng hiện nay, vì thế mà nó thường được sử dụng trên các smartphone cao cấp. Trong khi các thương hiệu khác hiện mới chỉ bắt đầu nâng cấp sản phẩm của mình với AMOLED thì Samsung đã phổ biến Super AMOLED đến người tiêu dùng. Samsung cũng khẳng định là sau 18 tháng nữa, họ mới chịu chia sẻ "miếng ngon" cho các nhà sản xuất khác. Dù trước hay sau, chắc chắn Samsung sẽ kiếm được một khoản không hề nhỏ từ Super AMOLED.
Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 28 Tháng 5 2013 09:29 )  
Chat Zalo